Breaking News

Tin tức môi trường

TIn tức môi trường

Hiển thị các bài đăng có nhãn môi trường chất thải. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn môi trường chất thải. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 23 tháng 3, 2015

KHỦNG HOẢNG NƯỚC TRẦM TRỌNG TRONG TƯƠNG LAI GẦN

Theo chúng ta đã biết nước có vai trò hết sức quan trọng đối với đời sống của tất cả sinh vật trên Trái Đất, kể cả con người, chúng ta không thể sống nếu như không có nước. Nhưng hiện nay môi trường nước ngày càng bị ô nhiễm ở hầu hết các quốc gia trên thế giới, kèm theo đó là khí hậu ngày càng biến đổi khắc nghiệt hơn làm cho nguồn nước đặc biệt là nguồn nước sạch ngày càng cạn kiệt dần. Nhưng ít ai có thể nhận biết được rằng nước không phải là nguồn tài nguyên vô hạn và chúng ta sẽ sống như thế nào nếu không có nước ?
Dự đoán các quốc gia trên thế giới sẽ đối mặt với tình trạng thiếu hụt nước đến 40% trong khoảng 15 năm tới, do tình trạng đô thị hóa, tăng trưởng dân số và nhu cầu sử dụng nước ngày càng tăng lên.



Người dân ở Bangalore, Ấn Độ, chờ lấy nước sạch và đựng nước trong bình nhựa. (Ảnh: AFP)

Đến năm 2050, 2/3 dân số thế giới sẽ sống tại thành phố và các khu đô thị. Chính vì vậy mà nhu cầu dùng nước ước tính sẽ tăng 55%, chủ yếu từ nhu cầu phát triển đô thị hóa ở các nước đang phát triển. Quá trình đô thị hóa đồng nghĩa với yêu cầu tiếp cận nước sạch và điều kiện vệ sinh môi tường.

Cũng tại thời điểm năm 2050, thế giới sẽ phải tạo ra nguồn lương thực tăng 60%. Trong khi đó, nhu cầu nước trên toàn cầu cho hoạt động công nghiệp sẽ tăng 400%. Toàn bộ dân số trên thế giới cần sử dụng năng lượng tăng 70%.

Quá trình đô thị hóa, sự gia tăng dân số và nhu cầu nước ngày càng tăng nhằm phục vụ cho sản xuất lương thực, năng lượng và công nghiệp là những yếu tố gây ra tình trạng thiếu nước. Theo báo cáo của Liên Hiệp Quốc, con người sẽ đối mặt với tình trạng thiếu hụt nguồn cung cấp nước đến 40%. Sự cạnh tranh ngày càng lớn đồng nghĩa rằng các biện pháp quản lý hiệu quả hơn mới có thể đảm bảo nhu cầu dùng nước cần thiết của mọi người.

"Chúng ta phải quản lý và sử dụng nguồn nước hợp lý. Nếu dùng nước để tưới tiêu và xử lý đất nông nghiệp với lượng ít hơn, điều đó có thể cung cấp nước phục vụ cầu của nhiều người khác", Reuters dẫn lời Richard Connor, tác giả chính của Báo cáo Phát triển Nước Thế giới,đã  nói.
Read more ...

Chủ Nhật, 22 tháng 3, 2015

CÔNG NGHỆ XỬ LÝ RÁC THẢI THÀNH NĂNG LƯỢNG SẠCH

Rác thải đang là một vấn đề lo ngại cho mỗi quốc gia, mỗi năm lượng rác thải rắn thải ra càng nhiều và các bãi rác chiếm diện tích ngày càng lớn, kèm theo đó là phải bỏ ra một khoản chi phí lớn cho việc xử lý.
Hàng trăm bãi rác bốc mùi hôi đang là vấn đề môi trường đáng lo ngại ở Canada. Đó không chỉ là mùi hôi mà là khí carbon dioxide (CO2) thoát ra từ quá trình rác phân hủy. Ước tính, hàng năm mỗi bãi rác giải phóng 25 triệu tấn CO2 - tương đương lượng khí thải của 5,5 triệu chiếc xe hơi. Các phương pháp nhằm giảm hoặc tái sử dụng tất cả loại rác thải từ rác hữu cơ đến chất thải phóng xạ được đưa ra ngày càng nhiều. Với các công ty kinh doanh ở đất nước Bắc Mỹ này, rác có thể là “kho báu” mang đến nguồn năng lượng có giá trị thương mại lớn và vật liệu tái sử dụng.


Xử lý rác thành nhiên liệu theo phương pháp Verti-gro.(Ảnh: fieldviewfarmllc)

Sau nhiều năm triển khai các dự án quản lý rác thải ở nước ngoài, một số công ty Canada nhận ra rằng đã đến lúc giải quyết tình trạng rác thải đổ đống trên “sân nhà”. Tập đoàn Năng lượng Plasco ở thành phố Ottawa được cấp bằng sáng chế cho công nghệ plasma để chuyển rác thải đô thị thành điện năng. Quy trình này đã được áp dụng cho một nhà máy ở ngoại ô Barcelona (Tây Ban Nha). Đầu năm tới, Plasco sẽ vận hành thử một nhà máy xử lý rác liên doanh với chính quyền Ottawa trị giá 27 triệu USD ở thành phố này. Theo Brod Bryden, Tổng Giám đốc điều hành Plasco, Canada đang bắt kịp châu Âu về việc đem lại “màu xanh” cho các bãi rác. Công nghệ của Plasco sẽ chuyển 1 tấn rác thành năng lượng đủ dùng cho một hộ gia đình trong 45 ngày. Trong quá trình xử lý, một tấn rác này cũng cho ra 150 kg vật liệu rắn, trơ thích hợp dùng trong các dự án xây dựng, 5 kg lưu huỳnh nguyên chất, 200 kg nước thải và 300 g kim loại nặng không dùng được.
Một công ty khác đang thực hiện các dự án chuyển-rác-thành-nhiên liệu ở ngoài Canada là Richway Environmental Technologies, được biết đến với công nghệ biến rác thải hữu cơ, như rơm, thành điện và hạn chế khí thải trong quá trình xử lý. Richway cho biết nhiều nhà đầu tư đã tìm đến đặt vấn đề liên doanh xây dựng các nhà máy tại British Columbia và Calgary. Tập đoàn Global Green Solutions của Mỹ sắp thương mại hóa công nghệ Verti-gro kết hợp ánh nắng, tảo và CO2 để sản xuất dầu thực vật và sau đó có thể được chuyển thành nhiên liệu sinh học. Một nhà máy thí điểm trị giá 3,5 triệu USD vừa được khởi công ở bang Texas. Theo Global, các giải pháp xử lý thông thường chỉ tạo ra 68 tấn dầu bắp trên mỗi 0,4 ha đất canh tác trong khi Verti-gro tạo ra 680 tấn trên cùng diện tích.

Trong khi một số doanh nghiệp tập trung chuyển đổi rác thải thường ngày thành nhiên liệu hoặc vật liệu mới, một số khác đang tìm cách xử lý rác thải độc hại thành vật liệu an toàn. Chẳng hạn, tập đoàn AMEC ở British Columbia đang thiết kế cơ sở làm sạch rác thải tại nhà máy sản xuất plutonium thời Thế chiến II ở bang Washington.

AMEC đang sở hữu công nghệ GeoMelt sử dụng nhiệt độ khoảng 2.000oC để nấu chảy chất thải rắn mà khi cứng lại thành chất rắn giống thủy tinh có thể chôn trong đất hoặc tái chế. “Đây là công nghệ xử lý chất thải phóng xạ độc nhất vô nhị”, John Stephens quản lý dự án cho biết. Dự án ở Washington sẽ kéo dài trong 2 năm, thời gian đủ để chứng minh tính hiệu quả của công nghệ GeoMelt với Bộ Năng lượng Mỹ trước khi ký hợp đồng hỗ trợ làm sạch địa điểm này vào năm 2028.
Read more ...

Thứ Bảy, 21 tháng 3, 2015

GIỮA THỦ ĐÔ, DÂN SỐNG CHUNG VỚI MUỖI

Dân gian hay có câu "về U Minh muỗi kêu như sáo thổi, đĩa lội như bánh canh" Nói tới muỗi là người ta cứ liên tưởng đến rừng U Minh. Nhưng không chỉ ở vùng đó người dân đã quen với muỗi mà nhiều năm nay hơn 16.000 người dân tại Tứ Liên (Tây Hồ, Hà Nội) cũng phải sống chung với muỗi. Người dân nơi đây cũng bắt đầu hình thành thói quen tối đánh thuốc muỗi, sáng dậy quét muỗi, dọn dẹp nhà cửa.

Ngao ngán thở dài, chị Đào Thị Huyền, 42 tuổi (Tứ Liên, Tây Hồ) cho biết, chị về đây ở chưa đầy 1 năm nhưng đã quen với cảnh sống chung với muỗi. "Thời gian mới về ở, nhìn thấy muỗi bám đen kịt trên tường, chỉ muốn dọn đi nơi khác sinh sống. Nhất là những hôm trời nồm, cả nhà phải mắc màn ăn cơm. Cứ diệt chúng nó lại đến, mỗi ngày một đông", chị Huyền nói.

Cách đó không xa là gia đình ông Phạm Văn Bắc cũng đang chật vật xịt muỗi từ trong nhà ra đến ngoài sân. Ông Bắc cho biết, nguyên nhân dẫn đến nạn muỗi khủng khiếp là do con kênh nằm giáp ranh giữa phường Quảng An và phường Tứ Liên (Tây Hồ) đã tồn tại từ nhiều năm nay. Cách đây hai ngày, chính quyền địa phương cũng cho người đi xịt thuốc muỗi khắp nơi nhưng không ăn thua. "Sống mãi rồi cũng thành quen. Chỉ khổ thân bọn trẻ con. Ăn ngủ rất vất vả. Những hôm trời mưa, muỗi bay vào nhà. Cứ rũ quần áo là thấy muỗi", ông Bắc chia sẻ thêm.

            
                      Sau mỗi đêm đánh thuốc, muỗi nằm chết la liệt trên nền nhà.

Bà Trần Thị Dật, Tổ trưởng dân phố 32, cụm 5, phường Tứ Liên, Hà Nội cho biết, tình trạng muỗi nhiều gây ảnh hưởng tới đời sống sinh hoạt của người dân nơi đây đã nhiều năm nay. Những ngày trời nồm ẩm hoặc ngày hè oi bức; mùi hôi thối bốc lên nồng nặc. "Con kênh ngày càng ô nhiễm trầm trọng là do một số người dân ý thức kém, vứt rác bừa bãi. Phường đã nhiều lần tổ chức phát quang hai bên bờ kênh, vớt rác thải nhưng đâu lại vào đấy", bà Dật cho biết thêm.

            
Nhiều năm nay, người dân Tứ Liên (Tây Hồ, Hà Nội) phải chịu cảnh sống chung với muỗi và rác thải.

Chia sẻ với phóng viên, ông Nguyễn Văn Bách - Phó chủ tịch Uỷ ban nhân dân phường Tứ Liên cho biết, phường và các ban ngành liên quan thường xuyên tổ chức phun thuốc diệt muỗi, nạo vét kênh mương. Tuy nhiên khi thuốc hết hiệu lực cộng với việc xả rác bừa bãi của người dân khiến tình trạng muỗi không có dấu hiệu thuyên giảm.

Đâu đâu cũng thấy muỗi

                

               

                             Những con còn sống bám đen kịt trên cửa sổ...

              

... và trên tường nhà.

             

Muỗi bám dày đặc trên vòi nước của một hộ dân

             

Các hộ gia đình thường xuyên phải giũ đồ, dọn dẹp nhà cửa để tránh muỗi phát sinh.

              

Sau thời tiết mưa phùn, nồm ẩm dài ngày, lượng loăng quăng trên dòng kênh này phát triển rất nhiều.

Nếu tình trang này kéo dài và không được khắc phục nhanh chóng thì không chỉ ảnh hưởng đến đời sống sinh hoạt của người dân sống trên địa bàn mà còn đe dọa đến sức khỏe của người dân, đặc biệt là đối với trẻ em.
Read more ...

Thứ Năm, 19 tháng 3, 2015

NHÀ MÁY NHIỆT ĐIỆN VĨNH TÂN 2 GÂY Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG NGHIÊM TRỌNG

Mặc dù mới đi vào hoạt động, nhưng nhà máy này đã gây ô nhiễm nghiêm trọng, ảnh hưởng đến môi trường sống của người dân.

Nằm giáp biển và bên cạnh Quốc lộ 1A, Nhà máy Nhiệt điện Vĩnh Tân 2 thuộc Trung tâm Nhiệt điện Vĩnh Tân, huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận, do Tập đoàn Điện lực Việt Nam làm chủ đầu tư có tầm vóc của một trung tâm công nghiệp năng lượng. Nhưng ít ai biết đằng sau đó là nỗi nhức nhối của người dân về vấn đề môi trường. Những cột khói đen liên tục xả ra từ nhà máy gây ảnh hưởng đến cuộc sống của hàng ngàn hộ dân ở phía Bắc huyện Tuy Phong. Nhất là gần đây, Nhà máy nhiệt điện Vĩnh Tân 2 còn cho xe vận chuyển xỉ than ra đổ dọc đường và đổ tràn lan ở bãi tập kết. Bãi xỉ không được xử lý theo đúng quy định, nên ảnh hưởng nghiêm trọng đến cuộc sống của người dân.


             
            Nhà máy nhiệt điện Vĩnh Tân 2 đặt tại xã Vĩnh Tân, huyện Tuy Phong

Chịu thiệt hại nặng nhất là khu dân cư thôn Vĩnh Phúc, xã Vĩnh Tân. Khu dân cư này nằm ngay dưới bãi xỉ khổng lồ, cách nhà máy chưa đầy 1km. Mỗi khi có gió lớn, người dân phải hứng chịu những trận “bão xỉ” mù mịt. Nhà nào cũng phải suốt ngày đóng cửa. Cây cối, hoa màu dính đầy bụi xỉ, ngả vàng và héo dần.

Chị Trần Thị Thanh Tuyền, người dân thôn Vĩnh Phúc, xã Vĩnh Tân bức xúc: "Bụi đóng thành cục. Từ cây trái cho tới cây trôm lấy mủ đều không thể ra hoa, kết trái và rụng hết lá. Nói chung cả gia đình tôi không ăn được, không uống được, cũng không làm gì được hết".


              
       Sản xuất nông nghiệp và môi trường sống của người dân bị ảnh hưởng nghiêm trọng

Sản xuất nông nghiệp bị ảnh hưởng, cuộc sống người dân lâm vào cảnh khó khăn. Nguồn nước sinh hoạt hằng ngày cũng không thể sử dụng do ô nhiễm bụi xỉ. Để đảm bảo, nhiều người phải mua nước lọc đóng bình sử dụng cho việc ăn uống.

Bà Nguyễn Thị Sách, người dân xã Vĩnh Tân cho biết: "Bây giờ, những bãi xỉ này, hễ có gió thổi qua là bụi bay luôn vào nhà. Nước cũng đen thui khiến chúng tôi không dám nấu ăn mà phải dùng nước lọc. Nước này tắm cũng bị ngứa. Sớm muộn những người dân sống trong bầu không khí này như gia đình tôi cũng sẽ nhiễm bệnh".


                   
                                 Khi có gió, bụi xỉ bay mù mịt lan tỏa xuống khu dân cư

Từ ngày hình thành bãi xỉ than thải ra từ nhà máy nhiệt điện, người dân địa phương cảm thấy bất an cho sức khỏe của gia đình mình. Dẫu biết rằng nếu sống ở đây lâu ngày, trước sau gì rồi cũng mang bệnh, nhưng thật sự thì người dân không biết dời đi đâu. Ông Phạm Văn Tuấn, người dân xã Vĩnh Tân buồn bã: "Mọi người đều lo lắng bệnh tật ai cũng biết hít như vậy là ảnh hưởng đến đường hô hấp. Tuy nhiên, người dân chúng tôi biết phải đi đâu mà đành chấp nhận sống chung. Còn con cái, chúng tôi phải chuyển đi đến nơi khác ăn học".

Chính quyền địa phương cho biết đã nhận đơn phản ánh của người dân trong xã. Ủy ban nhân dân xã Vĩnh Tân đã báo cáo tình hình lên cấp trên nhưng đến nay vẫn chưa thấy Nhà máy Nhiệt điện Vĩnh Tân khắc phục.


                   
                        Xe chở xỉ than từ nhà máy vào bãi xỉ cách Quốc lộ 1A chưa đầy 1 km

Ông Nguyễn Thanh Sang, Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Vĩnh Tân, huyện Tuy Phong cho biết: "Trước tình hình đó, chính quyền địa phương cũng như là huyện kể cả tỉnh cũng đã quan tâm, thành lập nhiều tổ giám sát, các đoàn kiểm tra và yêu cầu Ban quản lý nhà máy nhiệt điện có biện pháp tăng cường việc xử lý môi trường để giảm thiểu thiệt hại. Tuy nhiên, thực tế thời gian qua vấn đề đó vẫn chưa được khắc phục và xử lý triệt để".




Read more ...

Thứ Bảy, 14 tháng 3, 2015

Thừa Thiên-Huế: Hơn 519 nghìn euro xây hồ xử lý nước rỉ rác Thuỷ Phương


519 nghìn Euro!

Là số tiền mà tỉnh Thừa Thiên- Huế đầu tư xây đựng hồ xử lý nước rỉ rác Thủy Phương. Sau 2 năm thi công xây dựng, sáng 12/3, Công ty cổ phần Môi trường và Công trình Đô thị Huế tổ chức khánh thành và đưa vào sử dụng công trình tại bãi rác Thủy Phương (phường Thủy Phương, thị xã Hương Thủy).


Công trình do Tổ chức SIAAP (Nghiệp đoàn Xử lý nước thải vùng Paris - Pháp) và TP Huế đồng tài trợ với tổng chi phí xây dựng 519.163 euro (tương đương 13,5 tỷ đồng), trong đó Tổ chức SIAAP tài trợ 346.107 euro.

Quy mô xây dựng công trình gồm hồ làm thoáng với diện tích 1.916 m2, hồ lắng với diện tích 558 m2, bể lọc thực vật có diện tích 840 m2, nhà điều hành 9 m2. Ngoài ra còn có các thiết bị phục vụ cho hồ xử lý như máy sục khí tại hồ làm thoáng, máy bơm của trạm bơm chính và trạm bơm tuần hoàn, cùng các hạng mục phụ trợ khác...

Trước đó, vào ngày 11/3, UBND TP Huế ký kết thỏa thuận hợp tác với Nghiệp đoàn xử lý nước thải Vùng Paris-Pháp (SIAAP), giai đoạn 2015-2017.

Theo đó, trong năm 2015, SIAAP sẽ hỗ trợ cho TP Huế 100.000 euro thực hiện dự án xử lý nước thải trong hệ thống Kinh thành Huế, chủ yếu là tập trung ở sông Ngự Hà. 2 năm tiếp theo sẽ tiếp tục hỗ trợ khoảng 150.000 euro/năm.

Được biết, việc hỗ trợ của SIAAP đối với TP Huế đã có cách đây hơn 10 năm chủ yếu trong lĩnh vực thoát nước, cải thiện môi trường, cụ thể như dự án xây dựng cống thoát nước ở đường Nguyễn Hoàng, cải tạo hồ Tân Miếu – Võ Sanh, xử lý nước rỉ rác bãi rác Thủy Phương và một số công trình liên quan đến thoát và xử lý nước ở bên trong khu vực Kinh thành Huế.

Và dự kiến trong thời gian tới, các công trình tương tự sẽ được xây dựng để phục vụ cho công cuộc cải tạo môi trường với quy mô trung và lớn ở các địa bàn trên cả nước.
Read more ...

Thứ Năm, 11 tháng 12, 2014

PHÁT HIỆN TRUNG TÂM XỬ LÝ NƯỚC THẢI KCN DỆT MAY PHỐ NỐI - HƯNG YÊN XẢ NƯỚC THẢI KHÔNG QUA XỬ LÝ RA MÔI TRƯỜNG

(Tinmoitruong.vn) - Vào lúc 00 giờ 02 phút ngày 5/12/2014, Đoàn thanh tra công tác BVMT của Tổng cục Môi trường phối hợp với Phòng Cảnh sát phòng chống tội phạm về môi trường, Công an tỉnh Hưng Yên đã phục kích bắt quả tang Trung tâm xử lý nước thải Khu công nghiệp (KCN) Dệt may Phố Nối đang xả nước thải không qua xử lý ra ngoài môi trường.
Hưng[-]Yên:Trung[-]tâm[-]xử[-]lý[-]nước[-]thải[-]KCN[-]Dệt[-]may[-]Phố[-]Nối[-]xả[-]nước[-]thải[-]không[-]qua[-]xử[-]lý[-]ra[-]môi[-]trường
Hình ảnh đường ống trái phép đường kính 300 mm

Theo đó, Trung tâm xử lý nước thải KCN Dệt may Phố Nối xả nước thải không qua xử lý ra ngoài môi trường qua đường ống trái phép đường kính 300mm. Vào thời điểm Trung tâm đang xả trộm nước thải có ông Trần Quốc Việt là cán bộ đang trực vận hành hệ thống xử lý. Theo lời khai của ông Việt, ông Việt đã mở van trái phép nước thải qua đường ống này vào lúc 23 giờ 30 phút ngày 4/12/2014. Thời điểm dự kiến xả trong khoảng 04 giờ theo như thông lệ đã xả từ trước đến nay được ghi trong Sổ giao ca và ký trực.

Theo ghi nhận của Đoàn thanh tra và báo cáo của Trung tâm, mỗi ngày Trung tâm xả 01 lần trong khoảng 04 giờ liên tục, bắt đầu từ 22 giờ, 23 giờ hoặc 24 giờ hôm trước, lượng nước thải trung bình khoảng 3.500m3/ngày.
 
Tại thời điểm bắt quả tang, nước thải có màu đen, nhiều vẩn đục, bốc mùi hôi thối. Đoàn thanh tra đã đã tiến hành lấy 02 mẫu nước thải (01 mẫu lưu và 01 mẫu phân tích các thông số ô nhiễm).
 
Qua xem xét Sổ ghi nước thải do Trung tâm cung cấp, Đoàn thanh tra phát hiện, bên cạnh việc xử lý nước thảicho KCN Dệt may Phố Nối B, Trung tâm còn xử lý nước thải sản xuất của Công ty Minh Tâm chở đến là 4.782 m3 (từ ngày 20/6/2012 đến ngày 24/10/2014) và Công ty Mỹ Hưng khoảng 09 m3 (từ ngày 23/4/2012 đến ngày 20/12/2012).
 
Đoàn thanh tra đã yêu cầu Trung tâm cung cấp Giấy đề nghị xuất kho (hóa chất xử lý nước thải) và 12 Sổ giao ca và ký trực năm 2014 để Đoàn thanh tra nghiên cứu, xác định phạm vi.
 
Trước đó, ngày 31/10/2014 và ngày 4/12/2014, Đoàn thanh tra Tổng cục Môi trường đã tiến hành thanh tra và kiểm tra đột xuất Trung tâm xử lý nước thải KCN Dệt may Phố Nối.
 
Theo đó, Đoàn thanh tra đã phát hiện Trung tâm còn một số tồn tại, vi phạm như: Chưa đăng ký cấp lại sổ đăng ký CTNH theo quy định; Chưa cung cấp đầy đủ chứng từ quản lý CTNH theo yêu cầu của Đoàn; Xử lý nước thải chưa đạt tiêu chuẩn theo Giấy phép xả nước thải vào hệ thống công trình thủy lợi đã được cấp; Bố trí khu vực lưu giữ CTNH không đáp ứng tiêu chuẩn kỹ thuật; Chưa chuyển giao đầy đủ các loại CTNH cho đơn vị có chức năng xử lý (chưa chuyển giao bóng đèn huỳnh quang thải, giẻ lau dính dầu, bao bì đựng hóa chất thải).
 
Tại thời điểm kiểm tra đột xuất, Đoàn thanh tra nhận thấy nước thải xung quanh khu vực kênh Trần Thành Ngọ (là nguồn tiếp nhận nước thải của Trung tâm) có màu đen, đặc trưng cho nước thải dệt nhuộm. Đoàn thanh tra đã phát hiện Trung tâm đã dừng hoạt động Bể xử lý hiếu khí số 2. Theo báo cáo, Trung tâm đang cải tạo hệ thống để tăng thời gian xử lý vi sinh.
 
Theo đó, nước thải được đấu tắt bằng đường ống thép đường kính 300 mm từ Bể hiếu khí số 1 vào hệ thống lọc qua than hoạt tính. Tuy nhiên, đường ống đấu tắt này được chia làm hai đường, 01 đường đưa nước thảivào hệ thống lọc qua than hoạt tính, 01 đường có miệng xả vào hố thu nước thải sau xử lý; trên miệng xả này được lắp đặt 01 van khóa điều khiển đóng mở dễ dàng theo ý của người vận hành. Đoàn đã yêu cầu Trung tâm mở van khóa này thì nước thải có màu đen xả trực tiếp ra ngoài. Vì vậy, Đoàn thanh tra yêu cầu Trung tâm tháo dỡ hoặc hàn bịt đường ống này, báo cáo kết quả về Tổng cục Môi trường để kiểm tra.

Hưng[-]Yên:Trung[-]tâm[-]xử[-]lý[-]nước[-]thải[-]KCN[-]Dệt[-]may[-]Phố[-]Nối[-]xả[-]nước[-]thải[-]không[-]qua[-]xử[-]lý[-]ra[-]môi[-]trường
Trung tâm xử lý nước thải Khu công nghiệp Dệt may Phố Nối (viết tắt là Trung tâm) trực thuộc Tập đoàn Dệt May Việt Nam có địa chỉ tại KCN Dệt may Phố Nối B, huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên.
 
Trung tâm bắt đầu đi vào hoạt động từ tháng 12 năm 2005 trên tổng diện tích mặt bằng của Trung tâm là 11.648 m2 và số lượng cán bộ, công nhân viên hiện có là 05 người.
 
Hiện nay, Trung tâm đang thu gom nước thải từ 11 Doanh nghiệp trong Khu công nghiệp về hệ thống xử lý nước thải tập trung với tổng khối lượng từ 2.500 - 3.000 m3/ngày.đêm; công suất thiết kế của hệ thống xử lý là 10.000 m3/ngày.đêm, điểm tiếp nhận là kênh Trần Thành Ngọ.

Tổng hợp theo VEA, TMT
Read more ...

BỊ PHẠT 100 TRIỆU ĐỒNG VÌ CHÔN LẤP CHẤT THẢI SAI QUY ĐỊNH

- UBND tỉnh Tây Ninh vừa quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Công ty Cổ phần đầu tư Vạn Xuân (ấp Cẩm Bình, xã Cẩm Giang, huyện Gò Dầu, Tây Ninh) với số tiền phạt 100 triệu đồng về hành vi chôn, lấp, đổ chất thải rắn không đúng quy định về bảo vệ môi trường.

Chôn[-]lấp[-]chất[-]thải[-]sắt[-]thép[-]không[-]đúng[-]quy[-]định,[-]doanh[-]nghiệp[-]bị[-]phạt[-]100[-]triệu[-]đồng
Ảnh minh hoạ IE

Doanh nghiệp còn bị tước quyền sử dụng Giấy xác nhận bản cam kết bảo vệ môi trường và Sổ đăng ký chủ nguồn thải chất thải nguy hại (do UBND huyện Gò Dầu cấp) trong thời hạn 3 tháng; đồng thời buộc phải thu gom, bảo quản và hợp đồng với đơn vị chức năng để xử lý 54 m3 xỉ sắt đã chôn lấp (trái phép) trong khuôn viên của Công ty này.

Theo Công an tỉnh Tây Ninh, ngành nghề của Công ty cổ phần đầu tư Vạn Xuân là sản xuất sắt, thép. Trong quá trình hoạt động, Công ty không xử lý chất thải (xỉ sắt) đúng theo quy định về bảo vệ môi trường mà lén lút chôn lấp, phi tang chất thải nguy hại này ngay trong khuôn viên của Công ty, gây nguy cơ ô nhiễm nặng môi trường đất và nước khu vực xung quanh.

Trước đó, n gày 12/11/2014, phòng Cảnh sát phòng, chống tội phạm về môi trường Công an tỉnh Tây Ninh đã tiến hành kiểm tra, phát hiện, lập biên bản vi phạm của Công ty này về hành vi chôn lấp, đổ chất thải rắn (khoảng 54 m3) không đúng quy định về bảo vệ môi trường.
Theo tinmoitruong.vn
Read more ...

XỬ PHẠT 670 TRIỆU ĐỒNG NHÀ MÁY THÉP GÂY Ô NHIỄM TẠI BÀ RỊA - VŨNG TÀU

- Công ty TNHH Thép Đồng Tiến (xã Hắc Dịch, huyện Tân Thành, tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu) vừa bị xử phạt với tổng mức phạt là 670 triệu đồng.


Bà[-]Rịa-[-]Vũng[-]Tàu:[-]Nhà[-]máy[-]thép[-]gây[-]ô[-]nhiễm[-]bị[-]phạt[-]670[-]triệu[-]đồng
Thùng đựng hóa chất nguy hại được Công ty Thép Đồng Tiến nấu chảy gây ra mùi khó chịu - Ảnh: Đông 
/TTO

Tổng cục trưởng tổng cục Môi trường- Bộ Tài nguyên và môi trường Bùi Cách Tuyến vừa ký quyết định xử phạt vi phạm hành chính về lĩnh vực môi trường đối với Công ty TNHH Thép Đồng Tiến với tổng mức phạt 670 triệu đồng.

Theo quyết định, với các hành vi vi phạm gồm: Không lập báo cáo chất thải nguy hại; không đăng ký cấp lại chủ nguồn thải; xả nước thải vượt quy chuẩn chất thải; không lắp đặt, vận hành hệ thống xử lý môi trường như cam kết và xử lý chất thải nguy hại không có giấy phép, công ty này bị phạt tổng cộng số tiền như trên.

Trong đó, hành vi xử lý chất thải nguy hại không có giấy phép bị phạt tới 400 triệu đồng. Đồng thời, nhà máy thép của công ty TNHH Thép Đồng Tiến bị đình chỉ hoạt động gây ô nhiễm đến ngày 1-1-2015.

Trước đó vào đầu tháng 11-2014, nhà máy thép của công ty này đã gây ô nhiễm, khiến người dân ở xung quanh không chịu được mùi hôi và họ đã bao vây nhà máy, yêu cầu nhà máy dừng hoạt động.

Sau đó, ngành chức năng tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đã phát hiện trong khu vực chứa, nấu phế liệu của công ty này có khoảng 1.600 thùng phuy còn dính hóa chất nguy hại chưa được xử lý sạch trước khi nấu chảy.

Đến ngày 20-11, Thanh tra Tổng cục Môi trường đã vào cuộc giám sát và phát hiện thêm các vi phạm khác của Công ty TNHH Thép Đồng Tiến.

Theo Tinmoitruong.vn

Read more ...

Ô NHIỄM NGUỒN NƯỚC MẶT DO NƯỚC THẢI KHU CÔNG NGHIỆP

Tình trạng nước thải từ các khu công nghiệp gây ô nhiễm nặng nề nguồn nước mặt, đặc biệt là các lưu vực sông đang làm nhức nhối dư luận.


Hình ảnh xử lý nước thải
Kết quả điều tra, khảo sát cho thấy, các lưu vực sông bị ô nhiễm nặng nề nhất như hệ thống sông Đồng Nai, sông Nhuệ, sông Đáy, Sông Cầu đều là các lưu vực gắn với các vùng phát triển các Khu công nghiệp. Nguyên nhân của tình trạng này chính là việc các khu công nghiệp vẫn phớt lờ trách nhiệm xử lý nước thải đạt chuẩn trước khi thải ra môi trường.
Theo thống kê sơ bộ, lượng nước thải từ các khu công nghiệp, khu chế xuất khoảng 1.000.000m3/ngày, chiếm 35% tổng lượng nước thải trên toàn quốc (lượng nước thải từ khu công nghiệp khu vực Đông Nam Bộ chiếm khoảng 54%). Nhưng, hơn 75% lượng nước thải từ các khu công nghiệp, khu chế xuất không được xử lý trước khi xả thẳng ra môi trường (chủ yếu là xả vào sông, ngòi, kênh rạch). Điều này hoàn toàn phù hợp với thực tế chỉ có 60 trên 219 khu công nghiệp, khu chế xuất  trên địa bàn toàn quốc có hệ thống xử lý nước thải tập trung. Nhưng các hệ thống này có vận hành thường xuyên và xử lý nước thải đạt chuẩn hay không lại là chuyện khác. Nhiều khu công nghiệp như Vĩnh Lộc, Tân Phú Trung, Bình Chiểu có thời điểm nước thải vượt mức cho phép trên 100 lần. Kênh Bàu Lăng (Quảng Ngãi) vốn là nơi cung cấp nước cho sản xuất nông nghiệp, sau nhiều năm tiếp nhận  nước thải của khu công nghiệp Quảng Phú đã biến thành kênh nước thải ô nhiễm nghiêm trọng.

Lẽ ra việc quy hoạch các khu công nghiệp sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho công tác bảo vệ môi trường, trong đó có việc xử lý nước thải triệt để và tiết kiệm hơn so với việc xử lý phân tán, đơn lẻ. Tiếc rằng, đến thời điểm này vẫn còn quá nhiều  khu công nghiệp  không tuân thủ việc xây dựng và vận hành hệ thống xử lý nước thải tập trung theo quy định của pháp luật bảo vệ môi trường. Một trong các nguyên nhân của tình trạng này là do vẫn chưa có một cơ quan đầu mối quản lý  chính về môi trường đối với khu công nghiệp. Chính sự phân cấp không rõ ràng giữa cơ quan quản lý ngành (Sở TN& MT) và Ban Quản lý Khu công nghiệp cộng với việc kiểm tra, giám sát chưa thật quyết liệt, liên tục khiến cho các khu công nghiệp vẫn lảng tránh nghĩa vụ xử lý ô nhiễm môi trường, khiến cho các lưu vực sông bị "chết oan" hàng ngày.
Công ty môi trường công nghệ cung cấp các dịch vụ xử lý môi trườngxử lý nước thảixử lý khí thải ngoài ra chúng tôi còn có dịch vụ quan trắc môi trường và tư vấn môi trường
Read more ...

MỨC THU PHÍ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG ĐỐI VỚI NƯỚC THẢI SINH HOẠT

- UBND TP Hà Nội vừa ban hành Quyết định số 45/2014/QĐ-UBND ngày 20/8/2014 về việc thu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải sinh hoạt trên địa bàn TP.
Theo đó, tổ chức, cá nhân nộp phí sử dụng nước của đơn vị cung cấp nước sạch, mức thu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải sinh hoạt được tính bằng 10% trên giá bán nước sạch sinh hoạt (chưa bao gồm thuế giá trị gia tăng).
Nhiều hồ ở Hà Nội bị ô nhiễm.
Nhiều hồ ở Hà Nội bị ô nhiễm.

Đối tượng là cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân (trừ các cơ sở sản xuất, cơ sở chế biến thuộc các đơn vị vũ trang nhân dân, trụ sở điều hành, chi nhánh, văn phòng của các tổ chức, cá nhân không gắn liền với địa điểm sản xuất, chế biến, mức thu phí tính đến 30/9/2015 là 500 đồng/người/tháng, đến 1/10/2015 là 600 đồng/người/tháng.
Bên cạnh đó, đối tượng là bệnh viện, phòng khám chữa bệnh, cơ sở đào tạo, nghiên cứu, mức thu tính đến 30/9/2015 là 900 đồng/m3, đến 1/10/2015 là 1.000 đồng/m3. Đối tượng là cơ sở rửa ô tô, xe máy, sửa ô tô, xe máy, mức thu tính đến 30/9/2015 là 1.000 đồng/m3, đến 1/10/2015 là 1.500 đồng/m3.
Đối tượng là khách sạn, nhà hàng, cơ sở kinh doanh, dịch vụ khác (có nước thải không phải là nước thải công nghiệp, mức thu tính đến 30/9/2015 là 2.000 đồng/m3, đến 1/10/2015 là 2.500 đồng/m3.

Theo hanoimoi.com


Read more ...

NGUYÊN NHÂN GÂY Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG NƯỚC


1. Ô nhiễm nước sinh học do các nguồn thải đô thị hay kỹ nghệ có các chất thải sinh hoạt, phân, nước rữa của các nhà máy đường, giấy...
Sự ô nhiễm sinh học thể hiện bằng sự nhiễm bẩn do vi khuẩn rất nặng, đặt thành vấn đề lớn cho vệ sinh công cộng chủ yếu các nước đang phát triển. Các bệnh cầu trùng, viêm gan do siêu vi khuẩn tăng lên liên tục ở nhiều quốc gia chưa kể đến các trận dịch tả. Các sự nhiễm bệnh được tăng cường do ô nhiễm sinh học nguồn nước. Thí dụ thương hàn, viêm ruột siêu khuẩn. Các nước thải từ lò sát sinh chứa một lượng lớn mầm bệnh. Thí dụ lò sát sinh La Villette, Paris thải ra 350 triệu mầm hiếu khí và 20 triệu mầm yếm khí trong 1cm 3 nước thải, trong đó có nhiều loài gây bệnh( Plancho in Furon,1962).
Các nhà máy giấy thải ra nước có chứa nhiều glucid dễ dậy men. Một nhà máy trung bình làm nhiễm bẩn nước tương đươngvới một thành phố 500.000 dân.
Các nhà máy chế biến thực phẩm, sản xuất đồ hộp, thuộc da, lò mổ, đều có nước thải chứa protein. Khi được thải ra dòng chảy, protein nhanh chóng bị phân hủy cho ra acid amin, acid béo, acid thơm, H2S, nhiều chất chứa S và P, có tính độc và mùi khó chịu

Âu thuyền Thọ Quang đang là điểm nóng về ô nhiễm môi trường ở Đà Nẵng do nước thải từ các nhà máy trong KCN dịch vụ thuỷ sản Thọ Quang. Ảnh: HC


2. Ô nhiễm hoá học do chất vô cơ
Do thải vào nước các chất nitrat, phosphat dùng trong nông nghiệp và các chất thải do luyện kim và các công nghệ khác như Zn, Cr, Ni, Cd, Mn, Cu, Hg là những chất độc cho thủy sinh vật.
Sự ô nhiễm do các chất khoáng là do sự thải vào nước các chất như nitrat, phosphat và các chất khác dùng trong nông nghiệp và các chất thải từ các ngành công nghiệp.
Nhiễm độc chì (Saturnisne) : Ðó là chì được sử dụng làm chất phụ gia trong xăng và các chất kim loại khác như đồng, kẽm, chrom, nickel, cadnium rất độc đối với sinh vật thủy sinh.
Thủy ngân dưới dạng hợp chất rất độc đối với sinh vật và người. Tai nạn ở vịnh Minamata ở Nhật Bản là một thí dụ đáng buồn, đã gây tử vong cho hàng trăm người và gây nhiễm độc nặng hàng ngàn người khác. Nguyên nhân ở đây là người dân ăn cá và các động vật biển khác đã bị nhiễm thuỷ ngân do nhà máy ở đó thải ra.
Sự ô nhiễm nước do nitrat và phosphat từ phân bón hóa học cũng đáng lo ngại. Khi phân bón được sử dụng một cách hợp lý thì làm tăng năng suất cây trồng và chất lượng của sản phẩm cũng được cải thiện rõ rệt. Nhưng các cây trồng chỉ sử dụng được khoảng 30 - 40% lượng phân bón, lượng dư thừa sẽ vào các dòng nước mặt hoặc nước ngầm, sẽ gây hiện tượng phì nhiêu hoá sông hồ, gây yếm khí ở các lớp nước ở dưới.


3. Sự ô nhiễm bởi các hydrocarbon là do các hiện tượng khai thác mỏ dầu, vận chuyển ở biển và các chất thải bị nhiễm xăng dầu.
Ước tính khoảng 1 tỷ tấn dầu được chở bằng đường biển mỗi năm. Một phần của khối lượng này, khoảng 0,1 - 0,3% được ném ra biển một cách tương đối hợp pháp: đó là sự rửa các tàu dầu bằng nước biển. Các tai nạn đắm tàu chở dầu là tương đối thường xuyên. Ðã có 129 tai nạn tàu dầu từ 1973 - 1975, làm ô nhiễm biển bởi 340.000 tấn dầu (Ramade, 1989).
Ước tính có khoảng 3.6 triệu tấn dầu thô thải ra biển hàng năm (Baker,1983). Một tấn dầu loang rộng 12 km2 trên mặt biển, do đó biển luôn luôn có một lớp mỏng dầu trên mặt (Furon,1962).
Các vực nước ở đất liền cũng bị nhiễm bẩn bởi hydrocarbon. Sự thải của các nhà máy lọc dầu, hay sự thải dầu nhớt xe tàu, hoặc là do vô ý làm rơi vãi xăng dầu. Tốc độ thấm của xăng dầu lớn gấp 7 lần của nước, sẽ làm các lớp nước ngầm bị nhiễm. Khoảng 1,6 triệu tấn hydrocarbon do các con sông của các quốc gia kỹ nghệ hóa thải ra vùng bờ biển.
Hình 1. Con đường vận chuyển dầu mỏ


3.1. Chất tẩy rữa: bột giặt tổng hợp và xà bông
 Bột giặt tổng hợp phổ biến từ năm 1950. Chúng là các chất hữu cơ có cực (polar) và không có cực (non-polar). Có 3 loại bột giặt: anionic, cationic và non-ionic. Bột giặt anionic được sử dụng nhiều nhất, nó có chứa TBS (tetrazopylène benzen sulfonate), không bị phân hủy sinh học.
Xà bông là tên gọi chung của muối kim loại với acid béo. Ngoài các xà bông Natri và Kali tan được trong nước, thường dùng trong sinh hoạt, còn các xà bông không tan thì chứa calci, sắt, nhôm...sử dụng trong kỹ thuật (các chất bôi trơn, sơn, verni).
8
Nước xà phòng của Cty bột giặt Nét tràn vào nhà dân.
Nước bơm xuống bể lọc lần 2 vẫn còn mùi tanh
Nước bơm xuống bể lọc lần 2 vẫn còn mùi tanh
Để lấy nước ăn, phải lọc lần thứ 3...
Để lấy nước ăn, phải lọc lần thứ 3...
...sau đó tiếp tục lọc qua máy nóng lạnh.
...sau đó tiếp tục lọc qua máy nóng lạnh.
Màng dày trên lưới bể lọc
Màng đóng dày trên lưới bể lọc
Trạm nước của thôn Huỳnh Cung, phục vụ dân trong thôn còn chưa đủ
Trạm nước của thôn Huỳnh Cung, phục vụ dân trong thôn còn chưa đủ
Nước xà Phòng của Cty bột giặt Nét tràn lênh láng trên đường...
Nước xà Phòng của Cty bột giặt Nét tràn lênh láng trên đường...
1
Nước giếng khoan trong bể lắng đục lờ, váng vàng nhớt bám quanh thành bể.
http://vietbao.vn/Xa-hoi/Vung-o-nhiem-toan-tap-o-Ha-Noi/20751177/157/
3.2. Nông dược (Pesticides)
Các nông dược hiện đại đa số là các chất hữu cơ tổng hợp. Thuật ngữ pesticides là do từ tiếng Anh pest là loài gây hại, nên pesticides còn gọi là chất diệt dịch hay chất diệt hoạ.
Người ta phân biệt:
- Thuốc sát trùng (insecticides).
- Thuốc diệt nấm (fongicides).
- Thuốc diệt cỏ (herbicides).
- Thuốc diệt chuột (diệt gậm nhấm = rodenticides).
- Thuốc diệt tuyến trùng (nematocides).
Chúng tạo thành một nguồn ô nhiễm quan trọng cho các vực nước. Nguyên nhân gây ô nhiễm là do các nhà máy thải các chất cặn bã ra sông hoặc sử dụng các nông dược trong nông nghiệp, làm ô nhiễm nước mặt, nước ngầm và các vùng cửa sông, bồ biển.
Nước dùng của dân thành phố Arles (miền nam nước Pháp) có mùi khó chịu không sử dụng được, vào năm 1948. Nguyên nhân là do một nhà máy sản xuất thuốc diệt cỏ 2,4-D cách đó hàng trăm km thải chất cặn bã kỹ nghệ ra sông làm ô nhiễm nguồn nước.
Ô nhiễm của vùng bờ biển Thái Bình Dương của Hoa Kỳ, ở vịnh Californie, bởi hãng Montrose Chemicals do sự sản xuất nông dược. Hãng này sản xuất từ đầu năm 1970, 2/3 số lượng DDT toàn cầu làm ô nhiễm một diện tích 10.000 km2 (Mc Gregor, 1976), làm cho một số cá không thể ăn được tuy đã nhiều năm trôi qua.
Sử dụng nông dược mang lại nhiều hiệu quả trong nông nghiệp, nhưng hậu quả cho môi trường và sinh vật cũng rất đáng kể.

4. Ô nhiễm vật lý
Các chất rắn không tan khi được thải vào nước làm tăng lượng chất lơ lững, tức làm tăng độ đục của nước. Các chất này có thể là gốc vô cơ hay hữu cơ, có thể được vi khuẩn ăn. Sự phát triển của vi khuẩn và các vi sinh vật khác lại càng làm tăng độ đục của nước và làm giảm độ xuyên thấu của ánh sáng.
Nhiều chất thải công nghiệp có chứa các chất có màu, hầu hết là màu hữu cơ, làm giảm giá trị sử dụng của nước về mặt y tế cũng như thẩm mỹ.
Ngoài ra các chất thải công nghiệp còn chứa nhiều hợp chất hoá học như muối sắt, mangan, clor tự do, hydro sulfur, phènol... làm cho nước có vị không bình thường. Các chất amoniac, sulfur, cyanur, dầu làm nước có mùi lạ. Thanh tảo làm nước có mùi bùn, một số sinh vật đơn bào làm nước có mùi tanh của cá.  



BIỂN
Biển là nơi tiếp nhận phần lớn các chất thải từ lục địa theo các dòng chảy sông suối, các chất thải từ các hoạt động của con người trên biển như khai thác khoáng sản, giao thông vận tải biển. Biển vô cùng quan trọng.



NHƯNG
Trong nhiều năm, biển sâu còn là nơi đổ các chất thải độc hại như chất thải phóng xạ của nhiều quốc gia trên thế giới. Các biểu hiện của sự ô nhiễm biển khá đa dạng, có thể chia ra thành một số dạng như sau:.Gia tăng nồng độ của các chất ô nhiễm trong nước biển như dầu, kim loại nặng, các hoá chất độc hại.
.Gia tăng nồng độ các chất ô nhiễm tích tụ trong trầm tích biển vùng ven bờ.
.Suy thoái các hệ sinh thái biển như hệ sinh thái san hô, hệ sinh thái rừng ngập mặn, cỏ biển v.v...
.Suy giảm trữ lượng các loài sinh vật biển và giảm tính đa dạng sinh học biển.
.Xuất hiện các hiện tượng như thuỷ triều đỏ, tích tụ các chất ô nhiễm trong các thực phẩm lấy từ biển.
Công ước Luật biển năm 1982 đã chỉ ra 5 nguồn gây ô nhiễm biển: Các hoạt động trên đất liền, thăm dò và khai thác tài nguyên trên thềm lục địa và đáy đại dương, thải các chất độc hại ra biển, vận chuyển hàng hoá trên biển và ô nhiễm không khí.

Các nguồn ô nhiễm từ lục địa theo sông ngòi mang ra biển như dầu và sản phẩm dầu, nước thải, phân bón nông nghiệp, thuốc trừ sâu, chất thải công nghiệp, chất thải phóng xạ và nhiều chất ô nhiễm khác. Hàng năm, các chất thải rắn đổ ra biển trên thế giới khoảng 50 triệu tấn, gồm đất, cát, rác thải, phế liệu xây dựng, chất phóng xạ. Một số chất thải loại này sẽ lắng tại vùng biển ven bờ. Một số chất khác bị phân huỷ và lan truyền trong toàn khối nước biển.

Trong tương lai, do khan hiếm nguồn trên lục địa, sản lượng khai thác khoáng sản đáy biển sẽ gia tăng đáng kể. Trong số đó, việc khai thác dầu khí trên biển có tác động mạnh mẽ nhất đến môi trường biển. Hiện tượng rò rỉ dầu từ giàn khoan, các phương tiện vận chuyển và sự cố tràn dầu có xu hướng gia tăng cùng với sản lượng khai thác dầu khí trên biển. Vết dầu loang trên nước ngăn cản quá trình hoà tan oxy từ không khí. Cặn dầu lắng xuống đáy làm ô nhiễm trầm tích đáy biển. Nồng độ dầu cao trong nước có tác động xấu tới hoạt động của các loài sinh vật biển. Loài người đã và đang thải ra biển rất nhiều chất thải độc hại một cách có ý thức và không có ý thức. Loại hoá chất bền vững như DDT có mặt ở khắp các đại dương. Theo tính toán, 2/3 lượng DDT (khoảng 1 triệu tấn) do con người sản xuất, hiện đang còn tồn tại trong nước biển. Một lượng lớn các chất thải phóng xạ của các quốc gia trên thế giới được bí mật đổ ra biển. Riêng Mỹ năm 1961 có 4.087 và 1962 có 6.120 thùng phóng xạ được đổ chôn xuống biển. Việc nhấn chìm các loại đạn dược, bom mìn, nhiên liệu tên lửa của Mỹ đã được tiến hành từ hơn 50 năm nay. Riêng năm 1963 có 40.000 tấn thuốc nổ và dụng cụ chiến tranh được hải quân Mỹ đổ ra biển.
Hoạt động vận tải trên biển là một trong các nguyên nhân quan trọng gây ô nhiễm biển. Rò rỉ dầu, sự cố tràn dầu của các tàu thuyền trên biển thường chiếm 50% nguồn ô nhiễm dầu trên biển. Các tai nạn đắm tàu thuyền đưa vào biển nhiều hàng hoá, phương tiện và hoá chất độc hại. Các khu vực biển gần với đường giao thông trên biển hoặc các cảng là nơi nước biển có nguy cơ dễ bị ô nhiễm.
Ô nhiễm không khí có tác động mạnh mẽ tới ô nhiễm biển. Nồng độ CO2 cao trong không khí sẽ làm cho lượng CO2 hoà tan trong nước biển tăng. Nhiều chất độc hại và bụi kim loại nặng được không khí mang ra biển. Sự gia tăng nhiệt độ của khí quyển trái đất do hiệu ứng nhà kính sẽ kéo theo sự dâng cao mực nước biển và thay đổi môi trường sinh thái biển.
Bên cạnh các nguồn ô nhiễm nhân tạo trên, biển có thể bị ô nhiễm bởi các quá trình tự nhiên như núi lửa phun, tai biến bão lụt, sự cố rò rỉ dầu tự nhiên v.v...
Bảo vệ môi trường biển là một trong những nội dung quan trọng của các chương trình bảo vệ môi trường của Liên Hợp Quốc và các quốc gia trên thế giới. Công ước Luật biển năm 1982, Công ước Marpol 73/78 chống ô nhiễm biển, Công ước quốc tế 1990 về việc sẵn sàng đối phó và hợp tác quốc tế chống ô nhiễm dầu đã thể hiện sự quan tâm của quốc tế đối với vấn đề ô nhiễm biển.

Theo thuvienkhoahoc.com 
Read more ...
Designed By VungTauZ.Com